Trang chủ Blog Du Lịch 3 giả thuyết về tên gọi Sài Gòn

3 giả thuyết về tên gọi Sài Gòn

502
Chia sẻ

Nguồn gốc từ Sài Gòn

Sài Gòn một thành phố năng động, hiện đại, đầy cởi mở với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển. Cái tên Sài Gòn thân thương nhưng cũng gây nhiều tranh luận vì chưa có tiếng nói chung trong quan điểm lí giải hai chữ “Sài Gòn”. Không chỉ con dân đất Việt, ngay từ đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp cũng có tham vọng tìm hiểu nguồn gốc địa danh Sài Gòn. Vậy chúng ta có thể hiểu “tên gọi Sài Gòn” với nghĩa như nào? Dưới đây là 3 cách lí giải được xem như hợp lí và khoa học nhất!

3 giả thuyết về tên gọi Sài Gòn
(Sài Gòn trước 1975)

1. Sài Gòn từ Thầy Ngòn (Đề Ngạn), Xi- Coón (Tây Cống):

Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 tay thực dân Pháp là Aubaret và Francis Garnier (người bị Cờ Đen phục kích). Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine và Garnier, Cholen, thì người Tàu ở miền Nam, sau khi bị Tây Sơn tàn sát, đã lập nên thành phố Chợ Lớn vào năm 1778 và đặt tên cho thành phố đó là Tai-ngon hay Ti-ngạn Sau dó, người Việt bắt chước gọi theo và phát âm thành Sài Gòn.

Thuyết này được hai học giả là Vương Hồng Sến và Thái Văn Kiểm đồng ý. Quả thật, trên phương diện ngữ âm, thì Thầy Ngòn, Xi Coón, rất giống Sài Gòn! Tuy nhiên, theo lịch sử thì không phải Vì sao? Vì lịch sử chứng minh rằng Sài Gòn có trước, rồi người Tàu mới đọc theo và đọc trại ra thành Thầy Ngòn, Xi Coọn.

Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống Suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vở “Luỹ Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ Sài Gòn xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán “Côn” được dùng thế cho “Gòn”. Nếu đọc theo Nôm là “Gòn”, còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là “Côn”.

Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn. Thì làm gì phải đợi đến 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cổng.

Ngoài ra, về nghĩa lý thì cả hai chữ này hầu như vô nghĩa theo tiếng Hạn Dịch sát thì “Đề Ngạn” là “nắm lấy (đề) bờ sông cao dốc (ngạn)”. Theo Nguyễn Đình Đầu trong “Địa Chí Văn Hoá “thì “thành phố trên bến dưới thuyền nào mà không có ‘bờ sông cao dốc, mà không là ‘đề ngạn” .

2. Sài Gòn từ Củi Gòn, Cây Gòn, Prey Kor.

Thuyết này được Petrus Trương Vĩnh Ký đưa ra dựa theo sự “nghe nói” như sau:

“Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ; Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn . Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ở chùa Cây Mai và các vùng lân cận” P. Trương Vĩnh Ký, Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, trong Excursions et Reconnaissance X. Saigon, Imprimerie Coloniale 1885.

Nên chú ý rất kỹ chỗ “người ta nói”, nguyên văn “dit on” về thuyết nạy Không biết tại sao mà sau này Louis Malleret và Vương Hồng Sến lại quả quuyết thuyết này là “của” Trương Vĩnh Ký, mặc dù ngay sau đoạn này, Trương Vĩnh Ký lại viết tiếp “Theo ý tôi, hình như tên đó là của người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tìm ra được nguồn gốc đích thực của tên đó”.

Tương tự, có nhiều thuyết phụ theo nói rằng Sài Gòn từ “Cây Gòn” (Kai Gon) hay “Rừng Gòn” (Prey Kor) mà ra. Nói chung, các thuyết này đều dựa trên một đặc điểm chính: cây bông gòn.

Nhưng thuyết này phần lớn đã bị bác bỏ vì lý do đơn giản là không ai tìm được dấu tích của một thứ “rừng gòn” ở vùng Sài Gòn, hay sự đắc dụng của củi gòn ở miền Nam, kể cả Trương Vĩnh Ký. Ngay vào thời của Trương Vĩnh Ký (1885) tức khoảng hơn 100 năm sau mà đã không còn dấu tích rõ ràng của thứ rừng này, mặc dù lúc đó không có phát triển gì lắm. Ngay cả khi Louis Malleret khảo nghiệm lại, hình như cũng không có dấu vết gì của một rừng gòn ở Sài Gòn.

Thêm nữa là cây gòn thời đó dùng làm hàng rào chứ không làm củi. Và theo Lê Trung Hoa trong “Địa Danh TPHCM” thì “sài” chỉ xuất hiện trong các từ ghép Hán Việt, như “sài Tân” chứ chưa bao giờ được dùng như 1 từ đơn, nên không thể nói củi đước là sài được, củi gòn là Sài Gòn được

Vậy, thuyết Sài Gòn là “củi gòn” đã bị bác bỏ bởi thực tế địa lý và ngữ học

3. Sài Gòn từ Prei Nokor

Đây là thuyết mà thoạt đầu khó có thể chấp nhận nhất (về ngữ âm), nhưng hiện nay được coi như là “most likely”.

Chính Petrus Trương Vĩnh Ký là người đưa ra thuyết này Trong Tiểu Giáo Trình Địa Lý Nam Kỳ, ông đã công bố 1 danh sách đối chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokọr

Cả 2 Nguyễn Đình Đầu và Lê Trung Hoa đều đồng ý với thuyết này, dựa theo lịch sử và ngữ âm

Trước nhất, theo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623, một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor (SG) và Kras Krabei của Cao Miên để đặt phòng thu thuế.

Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Launay, Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi Rai Gon Thượng (Sài Gòn Thượng) và Rai Gon Hạ (Sài Gòn Hạ).

Đó là theo sử sách, còn theo tiếng nói thì Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là “thị trấn ở trong rừng”, Prei hay Brai là rừng, Nokor hay Nagara là thị trận Dây là vùng mà chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế như đã nói ở trên.

Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành RAI, thành “SÀI”, Nokor bị bỏ “no” thành “kor”, và từ “kor” thành “GÒN”.

Còn sở dĩ có Saigon viết dính nhau là do các giáo sĩ Tây Phương đã bỏ mất dấu và gắn liền nhau khi in. Sau khi chiếm nước ta, để khỏi đọc “sai” ra “sê” theo giọng Pháp nên Saigon được viết với hai dấu chấm trên chữ i.

Facebook Comments
[Total: 3    Average: 4.7/5]